TRUNG TÂM Y TẾ KHU VỰC TRÀ CÚ
KHOA DƯỢC – TỔ DƯỢC LÂM SÀNG – THÔNG TIN THUỐC
BẢN TIN THÔNG TIN THUỐC
Số: 1/ 2025
Quý III Năm 2025
Biên tập: DSCKI. TRƯƠNG VŨ PHƯƠNG
DS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRÚC
Tổ Dược lâm sàng - Thông tin thuốc
Khoa Dược - Trung tâm Y tế khu vực Trà Cú
|

MỤC LỤC
So sánh giữa thuốc thiamazol và carbimazol trong điều trị bệnh cường giáp. 5
Uống Aspirin hàng ngày giúp giảm một nửa nguy cơ tái phát ung thư ruột kết 11
Cập nhật hướng dẫn KDIGO 2024: sử dụng thuốc trên bệnh nhân có bệnh thận mạn
Không khuyến cáo sử dụng đồng thời clopidogrel với omeprazol hoặc esomeprazol do tương tác thuốc có ý nghĩa trên lâm sàng. Có thể sử dụng clopidogrel đồng thời với các PPI khác.
Nguy cơ khi sử dụng thuốc phối hợp:
Do cơ chế tác dụng của clopidogrel, thuốc có thể gây ra các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa như chảy máu, khó tiêu và loét. PPI thường được kê đơn đồng thời để giảm nguy cơ gặp phải các tác dụng phụ này ở những bệnh nhân có nguy cơ cao.
Tuy nhiên, khi sử dụng phối hợp để kiểm soát các tác dụng phụ, nguy cơ liên quan đến việc sử dụng clopidogrel và PPI do tương tác thuốc cũng xuất hiện. Clopidogrel là một tiền chất được hoạt hóa bởi enzyme CYP2C19. Omeprazole và esomeprazole là chất ức chế enzyme này, nghĩa là việc sử dụng đồng thời có thể làm giảm nồng độ clopidogrel đã hoạt hóa trong huyết tương. Các PPI khác có thể ức chế CYP2C19 ở mức độ thấp hơn và tương tác thuốc chưa có ý nghĩa trên lâm sàng.

Mức độ cần thiết của việc phối hợp clopidogrel và PPI:
Viện Y tế và Chất lượng Điều trị Quốc gia Anh (National Institute of Health and Care Excellence - NICE) khuyến cáo bắt đầu sử dụng PPI trên bệnh nhân đang sử dụng clopidogrel có nguy cơ cao gặp tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa. Các yếu tố nguy cơ bao gồm:
- Tuổi cao (đặc biệt trên 75 tuổi)
- Tiền sử loét dạ dày tá tràng, xuất huyết đường tiêu hóa hoặc thủng dạ dày tá tràng.
- Nhiễm Helicobacter pylori.
- Sử dụng đồng thời các thuốc được biết làm tăng nguy cơ xuất huyết đường tiêu hóa.
Bắt đầu sử dụng PPI:
Với bệnh nhân đang sử dụng clopidogrel cần phải sử dụng PPI, không sử dụng omeprazol/esomeprazol. Ưu tiên sử dụng lansoprazol, pantoprazol hoặc rabeprazol.
Bắt đầu sử dụng clopidogrel:
Với bệnh nhân đang sử dụng omeprazol/esomeprazol cần phải sử dụng clopidogrel, nên chuyển sang sử dụng PPI khác, gồm lansoprazol, pantoprazol hoặc rabeprazol.
Khuyến cáo từ Hiệp hội chuyên môn:
Hiệp hội Tim mạch Châu Âu nhận định rằng omeprazol/esomeprazol có tương tác thuốc có ý nghĩa trên lâm sàng với clopidogrel. Lansoprazol có nguy cơ trung bình, pantoprazol và rabeprazol có nguy cơ thấp gặp tương tác trên.
Khuyến cáo từ cơ quan quản lý:
Cơ quan Quản lý Dược phẩm Anh (MHRA) và Cơ quan Dược phẩm Châu Âu (EMA) không khuyến cáo sử dụng đồng thời clopidogrel với omeprazol/esomeprazol.
Thông tin sản phẩm:
- Clopidogrel: không khuyến cáo sử dụng đồng thời với omeprazol/esomeprazol. Tương tác với lansoprazol và pantoprazol ít có ý nghĩa lâm sàng hơn.
- Omeprazol/esomeprazol: không khuyến cáo sử dụng đồng thời với clopidogrel.
- Lansoprazol, pantoprazol và rabeprazol: không đề cập đến tương tác với clopidogrel.
Bằng chứng trên y văn:
Do tác động của PPI lên hiệu quả của clopidogrel trên hệ tim mạch chưa rõ ràng, khuyến cáo về quản lý tương tác thuốc dựa trên dữ liệu dược động học.
Dữ liệu dược động học:
- Omeprazol/esomeprazol: liều cao omeprazol (80 mg/ngày) làm giảm 49% nồng độ tối đa của clopidogrel trong huyết thanh. Liều omeprazol thấp hơn (20 mg/ngày) làm giảm nồng độ tối đa của clopidogrel huyết tương ít hơn (giảm 32%).
- Esomeprazol có tương tác tương tự với clopidogrel.
- Lansoprazol (30 mg/ngày) không làm giảm tổng nồng độ clopidogrel. Liều cao lansoprazol (60 mg/ngày) làm giảm nồng độ tối đa của clopidogrel trong huyết thanh (giảm 18%) thấp hơn so với liều cao omeprazol.
- Pantoprazol làm giảm nhẹ tổng liều nồng độ clopidogrel (giảm 14%) tuy nhiên liều dùng (80 mg/ngày) vượt quá liều được cấp phép.
- Rabeprazol làm giảm 28% nồng độ tối đa của clopidogrel huyết thanh ở bệnh nhân có chức năng CYP2C19 bình thường, nhưng không ảnh hưởng tổng nồng độ clopidogrel.

Tóm tắt so sánh:
Đặc điểm | Thiamazol | Carbimazol |
Cơ chế | + Thiamazol là một thuốc kháng giáp tổng hợp, dẫn chất thioimidazol có tác dụng ức chế quá trình tổng hợp hormon tuyến giáp bằng cách làm thay đổi phản ứng kết hợp iodid đã được oxy hóa vào gốc tyrosin của phân tử thyroglobulin và phản ứng cặp đôi phân tử iodotyrosin thành iodothyronin. + Ngoài ra, thiamazol còn ức chế enzym peroxydase của tuyến giáp dẫn đến ngăn cản sự oxy hóa iodid và iodtyrosin thành dạng có hoạt tính. | Carbimazol là một thuốc kháng giáp trạng tổng hợp, dẫn chất thioimidazol (imidazol có lưu huỳnh). Trong cơ thể, carbimazol bị chuyển hóa nhanh và hoàn toàn thành thiamazol. Vì vậy, cơ chế tác dụng của carbimazol cũng là cơ chế của thiamazol |
Hấp thu | + Hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa sau khi uống + Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong vòng 1 giờ sau khi uống | + Carbimazol hấp thu nhanh (15 - 30 phút) qua đường tiêu hóa sau khi uống + Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong vòng 1 - 2 giờ sau khi uống. |
Phân bố | Thiamazol tập trung nhiều vào tuyến giáp. Thể tích phân bố 0,6 lít/kg. Thuốc liên kết với protein trong huyết tương không đáng kể. Thiamazol qua được hàng rào nhau thai và tiết được vào sữa mẹ với nồng độ gần bằng nồng độ trong huyết tương của mẹ. | Thuốc tập trung nhiều vào tuyến giáp. Thể tích phân bố là 40 lít. Thuốc liên kết với protein trong huyết tương không đáng kể. Thiamazol (chất chuyển hóa có hoạt tính của carbimazol) qua được hàng rào nhau thai và tiết được vào sữa mẹ với nồng độ bằng nồng độ trong huyết tương của người mẹ. |
Chuyển hóa | Ở gan | Ở gan |
Thải trừ | Nửa đời thải trừ của thiamazol khoảng 3 - 6 giờ. | Nửa đời thải trừ khoảng 3 - 6 giờ. |
| Cường giáp: Được sử dụng điều trị cường giáp hay nhiễm độc giáp cho bệnh nhân bệnh Graves khi các biện pháp như phẫu thuật hay dùng iod phóng xạ không phù hợp. Ngoài ra, thiamazol còn được sử dụng làm giảm các triệu chứng cường giáp trước khi phẫu thuật tuyến giáp hay điều trị bằng iod phóng xạ. | Điều trị cường giáp do basedow Điều trị trước khi phẫu thuật tuyến giáp do cường giáp. Điều trị bổ trợ trước và sau khi điều trị iod phóng xạ (131I).
|
Chỉ định | Cường giáp, chuẩn bị phẫu thuật, điều trị iod phóng xạ | Cường giáp, chuẩn bị phẫu thuật, điều trị iod phóng xạ |
Chống chỉ định | Mẫn cảm với thuốc. Người đang có các bệnh nặng về máu (suy tủy, mất bạch cầu hạt). Phụ nữ đang cho con bú. Phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu thai kỳ. | Mẫn cảm với carbimazol hoặc các dẫn chất thioimidazol như thiamazol. Suy tủy, giảm bạch cầu nặng. Suy gan nặng. Tiền sử viêm tụy cấp sau khi dùng carbimazol hoặc chất chuyển hóa có hoạt tính của thiamazol. |
Tác dụng phụ | Phát ban, ngứa, buồn nôn, đau khớp, mất bạch cầu hạt, suy tủy, viêm gan | Phát ban, ngứa, buồn nôn, đau khớp, mất bạch cầu hạt, suy tủy, viêm gan |
Mong rằng thông tin này hữu ích cho bạn!

Acetylcysteine là một dạng tổng hợp của amino acid cysteine và bổ sung nguồn tiền chất để tổng hợp lại glutathione. Khi acetylcysteine được dùng kết hợp với Paracetamol, nó cung cấp cysteine cho cơ thể, giúp tăng cường sản xuất glutathione và giảm thiểu sự tổn thương gan do NAPQI gây ra. Điều này giúp giảm nguy cơ viêm gan và suy giảm chức năng gan do Paracetamol gây ra.
Do đó, việc kết hợp sử dụng acetylcysteine và Paracetamol hoàn toàn không đối kháng nhau mà trong nhiều trường hợp phối hợp này còn có thể giảm nguy cơ tổn thương gan khi sử dụng Paracetamol ở liều cao.
Cơ chế giải độc — N-acetylcysteine (NAC)
N-acetylcysteine (NAC) bổ sung nguồn tiền chất để tổng hợp lại glutathione, trực tiếp tái tạo khả năng giải độc NAPQI, và còn có tác dụng chống oxy hóa/ổn định vi mạch. Điều trị sớm (trong khoảng vài giờ sau uống quá liều) hiệu quả nhất vì ngăn cản cạn kiệt GSH và chuỗi tổn thương tiếp theo. (Medscape)

4.Uống Aspirin hàng ngày giúp giảm một nửa nguy cơ tái phát ung thư ruột kết
Các nhà nghiên cứu báo cáo vào ngày 17 tháng 9 trên Tạp chí Y học New England rằng việc sử dụng aspirin hàng ngày có thể làm giảm 55% nguy cơ tái phát ung thư ở những bệnh nhân mắc ung thư đại trực tràng do đột biến gen .
“Aspirin là loại thuốc dễ dàng tìm thấy trên toàn cầu và cực kỳ rẻ so với nhiều loại thuốc điều trị ung thư hiện đại, đây là điều rất tích cực”, nhà nghiên cứu chính Anna Martling, giáo sư y học phân tử và phẫu thuật tại Viện Karolinska ở Thụy Điển, cho biết trong một thông cáo báo chí.
Nghiên cứu tập trung vào những người mắc bệnh ung thư ruột kết do đột biến gen PIK3, gen giúp điều chỉnh sự phát triển và phân chia tế bào trong cơ thể con người.
Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 107.320 ca ung thư ruột kết và 46.950 ca ung thư trực tràng được chẩn đoán tại Hoa Kỳ .
Các nhà nghiên cứu cho biết trong các ghi chú cơ bản rằng có khoảng 30% đến 40% bệnh nhân ung thư ruột kết bị tái phát và di căn sang các bộ phận khác của cơ thể sau khi điều trị.
Trong nghiên cứu mới, các nhà nghiên cứu đã phân ngẫu nhiên 626 bệnh nhân ung thư đại tràng uống liều Aspirin 160mg mỗi ngày hoặc viên giả dược trong ba năm. Các bệnh nhân đến từ 33 bệnh viện ở Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch và Phần Lan.
“Aspirin đang được thử nghiệm ở đây trong một bối cảnh hoàn toàn mới như một phương pháp điều trị y học chính xác,” Martling nói. “Đây là một ví dụ rõ ràng về cách chúng ta có thể sử dụng thông tin di truyền để cá nhân hóa việc điều trị và đồng thời tiết kiệm cả tài nguyên lẫn đau khổ.”
Các nhà nghiên cứu vẫn chưa chắc chắn chính xác lý do tại sao aspirin làm giảm nguy cơ tái phát ung thư. Họ cho rằng có thể là do thuốc có khả năng giảm viêm, làm loãng máu và ức chế sự phát triển của tế bào khối u.
Các nhà nghiên cứu cho biết, tất cả những tác động này kết hợp lại sẽ tạo ra một môi trường bất lợi cho bệnh ung thư.
Martling cho biết: “Mặc dù chúng tôi vẫn chưa hiểu đầy đủ về tất cả các liên kết phân tử, nhưng những phát hiện này ủng hộ mạnh mẽ cơ sở sinh học và cho thấy phương pháp điều trị này có thể đặc biệt hiệu quả đối với các nhóm bệnh nhân được xác định về mặt di truyền”.
Tài liệu tham khảo
https://www.drugs.com/news/daily-aspirin-cuts-colon-cancer-recurrence-risk-126737.html
Tạp chí Y học New England, ngày 18 tháng 9 năm 2025
Viện Karolinska, thông cáo báo chí, ngày 17 tháng 9 năm 2025
5.Cập nhật hướng dẫn KDIGO 2024: sử dụng thuốc trên bệnh nhân có bệnh thận mạn
1. Lựa chọn thuốc và giám sát an toàn thuốc
Cân nhắc giữa lợi ích - nguy cơ khi kê đơn các thuốc có nguy cơ độc tính trên thận ở bệnh nhân có bệnh thận mạn (BTM)
Bệnh nhân có BTM có thể nhạy cảm hơn với độc tính trên thận của thuốc. Thực tế, mỗi năm khoảng 18 - 20% bệnh nhân có BTM giai đoạn 3 - 5 được kê đơn ít nhất một thuốc có nguy cơ gây độc trên thận. Trong đó, ba nhóm thuốc phổ biến nhất bao gồm: thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), thuốc kháng virus và các dẫn chất bisphosphonat. Trong trường hợp lợi ích vượt trội nguy cơ, các thuốc gây độc tính trên thận có thể vẫn được chỉ định ở bệnh nhân có BTM. Tuy nhiên, nếu có thể, nhân viên y tế nên ưu tiên lựa chọn các thuốc khác thay thế không gây độc trên thận. Các nhóm thuốc thường sử dụng đã ghi nhận gây độc tính trên thận và các thuốc có khả năng thay thế không gây độc trên thận được liệt kê trong Bảng 1.

Giám sát mức lọc cầu thận, điện giải đồ, nồng độ thuốc trên bệnh nhân BTM
Bệnh nhân có BTM đang được điều trị bằng các thuốc có khoảng điều trị hẹp, có tác dụng không mong muốn tiềm tàng trên thận hoặc gây độc tính trên thận, kể cả bệnh nhân điều trị ngoại trú hay nội trú, đều cần được giám sát GFR, điện giải đồ và nồng độ thuốc trong máu (nếu điều kiện cho phép). Cụ thể, các thuốc ức chế enzym chuyển (ACEi) và thuốc đối kháng thụ thể angiotensin (ARB) cần theo dõi nồng độ kali và creatinin huyết thanh trong tuần đầu tiên điều trị. Ngoài ra, các kháng sinh như gentamicin và vancomycin có khoảng điều trị hẹp và nguy cơ gây AKI thường liên quan đến ngưỡng nồng độ đáy cao. Do đó, cần giám sát GFR và nồng độ thuốc trong máu trong thời gian điều trị kéo dài. Một số thuốc khác, như lithium hoặc methotrexat, cần theo dõi định kỳ creatinin huyết thanh, ít nhất mỗi năm một lần, để đánh giá nguy cơ gây độc trên thận của các thuốc này.
Cân nhắc và hạn chế sử dụng các thuốc không kê đơn, thực phẩm bổ sung hoặc thuốc có nguồn gốc dược liệu có thể gây hại cho bệnh nhân có BTM
Các thuốc không kê đơn (OTC), thuốc có nguồn gốc thảo dược hoặc thực phẩm bổ sung có thể là nguyên nhân gây ra hoặc làm tiến triển nhanh chóng tình trạng bệnh thận của bệnh nhân. Một trong những thuốc OTC được sử dụng phổ biến nhất là NSAIDs, thuốc ức chế bơm proton (PPI). Việc lạm dụng các thuốc OTC này thường liên quan đến nguy cơ độc tính trên thận. Cụ thể, NSAIDs có thể gây viêm thận kẽ, các bệnh thận do thuốc giảm đau. PPI cũng liên quan đến các biến cố bất lợi trên thận như AKI, CKD do viêm mô kẽ ống thận và viêm thận kẽ cấp tính.
Thuốc có nguồn gốc dược liệu và thực phẩm bổ sung thường được sử dụng mà không cần sự giám sát của nhân viên y tế. Tuy nhiên, hiện chưa có đánh giá đầy đủ về việc sử dụng các chế phẩm này ở bệnh nhân có BTM. Tần suất CKD hay những độc tính trên thận của các chế phẩm này tùy thuộc từng nhóm đối tượng, từng khu vực địa lý khác nhau. Ví dụ, độc tính trên thận liên quan đến acid aristolochic hoặc các hợp chất alcaloid thường có trong các sản phẩm có nguồn gốc dược liệu từ Trung Quốc. Ngoài ra, các thực phẩm bổ sung creatin được dùng trong tập thể hình cũng có liên quan nguy cơ viêm thận kẽ do dị ứng hoặc bổ sung quá liều vitamin C (acid ascorbic) gây lắng động tinh thế canxi oxalat tại ống thận. Do đó, nhân viên y tế cần khai thác thông tin các thuốc có nguồn gốc và thực phẩm bổ sung bệnh nhân đang sử dụng để có biện pháp giảm thiểu nguy cơ gây tổn thương thận.
Cân nhắc nguy cơ dị tật thai nhi, tư vấn sinh sản và biện pháp tránh thai phù hợp khi chỉ định thuốc cho các bệnh nhân có BTM trong độ tuổi sinh sản
Mang thai có thể làm diễn tiến BTM nặng lên ở những bệnh nhân đã mắc bệnh thận trước đó. Thêm vào đó, một số loại thuốc được sử dụng để làm chậm hoặc ngăn ngừa diễn tiến của BTM, như ACEi/ARB hoặc các thuốc ức chế protein đích của rapamycin (mammalian target of rapamycin inhibitor - mTORi) lại có nguy cơ gây dị tật thai nhi, nên được khuyến cáo ngừng sử dụng trong thời kỳ mang thai. Ngược lại, một số thuốc khác có thể tiếp tục sử dụng, bao gồm hydroxychloroquin, tacrolimus, cyclosporin, eculizumab, prednison, azathioprin, colchicin và immunoglobulin truyền tĩnh mạch. Cần đánh giá cẩn thận phác đồ điều trị của bệnh nhân để thay thế các thuốc nguy cơ gây dị tật thai trước khi thụ thai hoặc khi có thể. Đồng thời, nhân viên y tế nên có kế hoạch giám sát và chăm sóc đặc biệt đối với các bệnh nhân có BTM trong độ tuổi sinh sản từ trước khi thụ thai, trong suốt quá trình mang thai và cho con bú.
2. Hiệu chỉnh liều dựa trên mức lọc cầu thận
Các thuốc được thải trừ qua thận cần hiệu chỉnh liều dựa trên GFR
Một số thuốc và/hoặc các chất chuyển hóa còn hoạt tính của thuốc được thải trừ qua thận. Việc không đánh giá đầy đủ ảnh hưởng của GFR đến chế độ liều của thuốc có thể dẫn đến thất bại điều trị hoặc gây ra biến cố bất lợi cho bệnh nhân. Khuyến cáo hiệu chỉnh liều dựa trên các giai đoạn khác nhau của BTM được đề cập trong các sách chuyên khảo, cơ sở dữ liệu trực tuyến, hoặc hướng dẫn điều trị của các cơ sở điều trị. Trong phần lớn bối cảnh lâm sàng, công thức ước tính mức lọc cầu thận dựa trên nồng độ Creatinin huyết thanh (SCr) phù hợp để hiệu chỉnh liều thuốc.
Trong một số trường hợp đặc biệt, có thể cân nhắc sử dụng phương pháp ước tính GFR thông qua cả creatinin và cystatin C, hoặc GFR thực tế đo được
Một số trường hợp cần giá trị GFR với độ chính xác cao hơn để đưa ra quyết định liên quan đến thuốc (ví dụ: chế độ liều đối với các thuốc có khoảng điều trị hẹp), đánh giá độc tính của thuốc, hoặc trong các trường hợp lâm sàng trong đó mức lọc cầu thận ước tính dựa trên creatinin huyết thanh không thực sự đáng tin cậy, cần xem xét sử dụng các phương pháp ước tính GFR dựa trên cả Creatinin và Cystatin C hoặc GFR thực tế đo được.
Ở những bệnh nhân quá nhẹ cân hoặc thừa cân, cân nhắc sử dụng công thức ước tính GFR không hiệu chỉnh theo diện tích bề mặt cơ thể, đặc biệt là đối với các thuốc có khoảng điều trị hẹp và cần đạt nồng độ tối thiểu có hiệu quả
Để đánh giá BTM, giá trị GFR được ước tính theo kích thước cơ thể trung bình. Vì vậy, các công thức ước tính GFR đã được xây dựng, với đơn vị ml/phút/1,73 m² diện tích bề mặt cơ thể (BSA). Tuy nhiên, độ thanh thải thuốc lại liên quan chặt chẽ hơn với GFR không hiệu chỉnh (ml/phút) so với GFR đã hiệu chỉnh (ml/phút/1,73 m²), ảnh hưởng đến quyết định không sử dụng thuốc hoặc quá liều/thiếu liều ở bệnh nhân quá nhẹ cân hoặc thừa cân. GFR không hiệu chỉnh có thể được tính bằng cách nhân kết quả GFR đã hiệu chỉnh với BSA của bệnh nhân đó và chia cho 1,73 m², hoặc sử dụng một công cụ tính toán trực tuyến phù hợp.
Cần thận trọng khi hiệu chỉnh liều thuốc ở những bệnh nhân có GFR và/hoặc các yếu tố ảnh hưởng đến chất đánh dấu (marker) không phải GFR hoặc thể tích phân bố không ở trạng thái ổn định
Ở những bệnh nhân có tình trạng lâm sàng thay đổi nhanh chóng, việc ước tính GFR là một thách thức. Nồng độ các chất đánh dấu được sử dụng để ước tính mức lọc của thận trong huyết thanh có thể thay đổi do sự thay đổi của bản thân GFR và/hoặc các yếu tố không phải GFR. Trong những trường hợp này, đối với những bệnh nhân cần sử dụng thuốc có thể bị ảnh hưởng bởi hoặc có thể ảnh hưởng đến GFR, nhân viên y tế cần thường xuyên đánh giá nguy cơ, lợi ích, vai trò của thuốc trong điều trị và cân nhắc chế độ liều cao hoặc thấp hơn so với khuyến cáo. Nếu điều kiện cho phép, nên giám sát nồng độ thuốc trong máu để hướng dẫn việc điều chỉnh liều phù hợp.
3. Sử dụng đồng thời nhiều thuốc và quản lý sử dụng thuốc
Bệnh nhân có BTM thường sử dụng đồng thời nhiều thuốc để điều trị các bệnh lý kèm. Đa số bệnh nhân có BTM không lọc máu được kê trung bình 6-12 loại thuốc khác nhau mỗi ngày. Sử dụng nhiều thuốc đồng thời làm tăng gánh nặng thuốc, nguy cơ gặp các biến cố bất lợi do sai sót trong sử dụng thuốc và tương tác thuốc - thuốc. Do vậy, các nhân viên y tế, trong đó có dược sĩ lâm sàng, cần thận trọng trong việc đánh giá sự phù hợp của thuốc, số lượng, liều dùng và tương tác thuốc. Quản lý sử dụng thuốc đảm bảo sử dụng thuốc an toàn trong quá trình điều trị. Thuốc cần được kê đơn phù hợp, được giám sát tính hiệu quả và độ an toàn, và ngừng sử dụng khi không cần thiết. Từ đó, KDIGO 2024 đưa ra một số khuyến cáo trong thực hành lâm sàng như sau:
Sử dụng đồng thời nhiều thuốc trên bệnh nhân có BTM
Định kỳ đánh giá sử dụng thuốc, đặc biệt tại các giai đoạn chuyển tiếp điều trị để đánh giá mức độ tuân thủ, các chỉ định cần tiếp tục và nguy cơ tương tác thuốc trên bệnh nhân có BTM. Trong trường hợp cần ngừng thuốc do các bệnh lý cấp tính, xây dựng kế hoạch cụ thể về thời điểm bắt đầu sử dụng lại thuốc cho bệnh nhân và nhân viên y tế và đảm bảo ghi chép đầy đủ trong bệnh án.
Cân nhắc ngừng một số loại thuốc (như metformin, ACEi, ARBs, và thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển natri - glucose 2: SGLT2i) trong vòng 48-72 giờ trước khi phẫu thuật hoặc khi cần xử trí khẩn cấp các biến cố bất lợi của thuốc. Bảng 2 trình bày các nhóm thuốc nên cân nhắc ngừng tạm thời trước phẫu thuật và các biến cố bất lợi tiềm tàng liên quan đến việc tiếp tục sử dụng các thuốc này.

Chiến lược quản lý sử dụng thuốc
Khuyến cáo bệnh nhân có BTM về những lợi ích và nguy cơ của thuốc, từ đó, bệnh nhân có thể nhận biết và báo cáo các biến cố bất lợi kịp thời.
Tăng cường hợp tác giữa các nhân viên y tế, trong đó có dược sĩ và/hoặc sử dụng các công cụ để đảm bảo và cải thiện công tác quản lý sử dụng thuốc ở bệnh nhân có BTM.
4. Chẩn đoán hình ảnh
Cân nhắc lợi ích - nguy cơ của chỉ định chẩn đoán hình ảnh dựa trên tình trạng bệnh lý BTM của từng bệnh nhân.
Việc sử dụng thuốc cản quang chứa iod liên quan tới nguy cơ AKI, với các tần suất báo cáo khác nhau phụ thuộc vào nhóm đối tượng, loại thuốc cản quang, đường dùng, liều dùng cũng như quy ước đánh giá độc tính trên thận. Mặc dù có nguy cơ AKI liên quan sử dụng thuốc cản quang ở bệnh nhân có BTM giai đoạn 4 - 5, nhưng việc trì hoãn hoặc thực hiện các phương pháp chẩn đoán hình ảnh không tối ưu do lo ngại về biến chứng liên quan đến thuốc cản quang ở bệnh nhân có giảm GFR cũng có thể gây hại cho bệnh nhân. Các yếu tố nguy cơ tiềm tàng gây tổn thương thận cấp liên quan đến thuốc cản quang được trình bày tại Bảng 3.

Một số khuyến cáo khác về sử dụng thuốc cản quang trên bệnh nhân BTM
- Thuốc cản quang đường tiêm động mạch và tĩnh mạch:
Cần đánh giá nguy cơ AKI ở bệnh nhân có BTM sử dụng thuốc cản quang tiêm động mạch trong can thiệp tim mạch, đặc biệt là chụp động mạch vành do nguy cơ này cao hơn so với việc dùng thuốc cản quang theo đường tĩnh mạch.
- Các thuốc cản quang tiêm tĩnh mạch có thể sử dụng ở bệnh nhân AKI hoặc GFR < 60 ml/phút/1,73m2 (CKD giai đoạn 3a - 5) dựa trên hướng dẫn đồng thuận của các Hiệp hội Điện quang.
- Thuốc đối quang từ chứa gadolinium:
Đối với bệnh nhân có GFR < 30 ml/phút/1,73m2 (CKD giai đoạn 4-5) khuyến cáo sử dụng thuốc đối quang từ có chứa gadolinium và ưu tiên nhóm thuốc II và III theo phân loại của Hiệp hội Điện quang Hoa Kỳ.
Kidney Disease: Improving Global Outcomes (KDIGO) (2024), “Clinical Practice Guideline for the Evaluation and Management of Chronic Kidney Disease”, Kidney International, 105(4S), pp. S246-S254.
Nguồn Trung tâm Di & ADR Quốc gia




In bài viết